Kết quả sản xuất điện và công tác sửa chữa
Trong 10 tháng năm 2026, Công ty Nhiệt điện Thái Bình tập trung thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, duy trì vận hành nhà máy, bảo đảm an toàn thiết bị và đáp ứng yêu cầu cung ứng điện. Theo số liệu cập nhật đến ngày 26/10/2026, sản lượng điện phát đạt 3,028/3,68 tỷ kWh tỷ kWh bằng 82,28% kế hoạch EVN giao. Kết quả này thể hiện nỗ lực của tập thể Ban lãnh đạo và Người lao động và sự phối hợp giữa các đơn vị trong quản lý, vận hành Nhà máy.
Công ty tiếp tục kiểm tra, giám sát tình trạng thiết bị, bảo dưỡng định kỳ, xử lý khiếm khuyết và duy trì các điều kiện cần thiết để tổ máy sẵn sàng vận hành theo phương thức huy động. Công tác an toàn vệ sinh lao động, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường và kỷ luật vận hành được chú trọng; các đơn vị tăng cường chấp hành quy trình chuyên môn, kịp thời phát hiện và xử lý bất thường, hạn chế nguy cơ sự cố.

Lực lượng sửa chưa kiểm tra, bảo dưỡng thiết bị định kỳ
Tổ máy S1 được đại tu theo kế hoạch từ ngày 28/8 đến ngày 27/10/2026. Công ty đã hoàn thành các hạng mục sửa chữa, bắt đầu khởi động tổ máy ngày 22/10; từ ngày 24/10 thực hiện chạy thử tổng hợp toàn bộ hệ thống và dự kiến hoàn thành chạy thử 72 giờ trong ngày 27/10/2026, tiến độ cơ bản đáp ứng kế hoạch đăng ký, góp phần đưa tổ máy trở lại trạng thái sẵn sàng vận hành. Tổ máy S2 dự kiến tiểu tu từ ngày 15/11 đến ngày 24/11/2026; công tác chuẩn bị nhân lực, vật tư và phối hợp giữa các đơn vị được chủ động triển khai nhằm bảo đảm an toàn, chất lượng, đúng tiến độ.
Đồng bộ giải pháp bảo đảm cung ứng điện cuối năm 2026
Trong những tháng cuối năm, Công ty tập trung các giải pháp kỹ thuật, vận hành, sửa chữa và bảo đảm nhiên liệu để duy trì các tổ máy vận hành an toàn, ổn định, tin cậy và kinh tế. Công tác bảo dưỡng, bôi trơn định kỳ, kiểm tra, thí nghiệm, kiểm định và xử lý khiếm khuyết được thực hiện thường xuyên; tiến độ, chất lượng và an toàn sửa chữa được kiểm soát chặt chẽ, chú trọng nghiệm thu và đánh giá tình trạng thiết bị trước khi đưa vào vận hành.
Công ty duy trì chế độ trực 24/24 giờ, tăng cường kiểm tra tại chỗ và theo dõi thông số thiết bị. Trong ca trực, tình trạng thiết bị được kiểm tra định kỳ 2 giờ/lần để phát hiện sớm dấu hiệu bất thường, chủ động phòng ngừa sự cố. Các đơn vị xây dựng phương án xử lý tình huống, bố trí lực lượng vận hành và sửa chữa sẵn sàng phối hợp khắc phục; tồn kho vật tư được theo dõi hằng ngày, đồng thời đôn đốc mua sắm vật tư thay thế để hạn chế nguy cơ kéo dài thời gian sửa chữa.

Lực lượng vận hành kiểm tra , ghi chép thông số thiết bị vận hành
Bảo đảm nguồn than là nhiệm vụ trọng tâm nhằm duy trì vận hành ổn định các tổ máy. Công ty đã ký hợp đồng cung cấp than cho những tháng cuối năm 2026 và chuẩn bị điều kiện ký hợp đồng năm 2027. Tính đến hết ngày 18/10/2026, lượng than tồn kho đạt 121.211 tấn, cao hơn mức tối thiểu 80.000 tấn theo quy định của Tập đoàn. Công ty tiếp tục theo dõi việc tiếp nhận, tiêu thụ, tồn kho và chất lượng than; phối hợp với các đơn vị liên quan để bảo đảm tiến độ cung cấp, duy trì dự trữ phù hợp với kế hoạch vận hành.
Chủ động chuẩn bị kế hoạch sản xuất năm 2027
Để bảo đảm tính liên tục trong vận hành và chủ động nguồn lực cho các kỳ huy động tiếp theo, Công ty đang chuẩn bị kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2027 với sản lượng điện dự kiến là 3.590,19 triệu kWh. Trọng tâm là hoàn thiện kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng; chuẩn bị vật tư, nhiên liệu, nhân lực; phối hợp tổ chức thực hiện đồng bộ và hạn chế ảnh hưởng của sửa chữa đến khả năng đáp ứng yêu cầu huy động.

Kế hoạch sửa chữa năm 2027 dự kiến gồm: tiểu tu tổ máy S1 từ ngày 06/3 đến ngày 15/3; tiểu tu tổ máy S2 từ ngày 20/3 đến ngày 29/3; tiểu tu tổ máy S1 từ ngày 28/8 đến ngày 06/9; và đại tu tổ máy S2 từ ngày 15/9 đến ngày 14/11/2027. Các mốc thời gian sẽ được rà soát, tổ chức thực hiện theo kế hoạch được phê duyệt, bảo đảm chất lượng sửa chữa và độ sẵn sàng của thiết bị.
Lượng than dự kiến cung cấp cho năm 2027 khoảng 1,601 triệu tấn. Công ty tiếp tục triển khai các công việc liên quan đến hợp đồng mua bán than, xây dựng kế hoạch nhập than theo tháng và duy trì mức tồn kho phù hợp: dự kiến 80.000 tấn trong tháng 1, tháng 2 và từ tháng 7 đến tháng 12; 120.000 tấn trong các tháng từ tháng 3 đến tháng 6/2027. Cùng với đó, Công ty hoàn thiện kế hoạch sửa chữa lớn, lựa chọn nhà thầu, dự toán sản xuất kinh doanh và các điều kiện hậu cần, góp phần hạn chế rủi ro về tiến độ, vật tư và nhiên liệu.
Nâng cao hiệu quả thực hiện, chăm lo đời sống người lao động
Công ty tiếp tục tăng cường giao nhiệm vụ, kiểm tra tiến độ và đánh giá kết quả thực hiện của từng đơn vị. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xem xét đồng bộ trên cơ sở kết quả kế hoạch, độ tin cậy và khả dụng của tổ máy, chất lượng sửa chữa, việc tuân thủ quy trình an toàn, khả năng bảo đảm nhiên liệu và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Các tồn tại, khiếm khuyết phải được phát hiện, báo cáo và xử lý kịp thời; trách nhiệm của đơn vị chủ trì và phối hợp được xác định rõ, gắn với yêu cầu kiểm soát chi phí, sử dụng hợp lý vật tư và nhiên liệu.
Song song với nhiệm vụ sản xuất, bảo vệ môi trường, Công ty quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; chú trọng cải thiện điều kiện làm việc, thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách và xây dựng môi trường làm việc an toàn, đoàn kết. Tích cực hưởng ứng các hoạt động, chương trình an sinh xã hội do EVN, địa phương phát động. Đây là nền tảng để cán bộ, công nhân viên yên tâm công tác, phát huy trách nhiệm và đóng góp vào hiệu quả chung.

Lực lượng vận hành tại Phòng điều khiển trung tâm
Với tinh thần chủ động, trách nhiệm và phối hợp đồng bộ, những tháng tiếp theo của năm 2026, Công ty Nhiệt điện Thái Bình tiếp tục tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, từ quản lý vận hành, sửa chữa bảo dưỡng thiết bị, bảo đảm cung ứng nhiên liệu đến thực hiện các giải pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất. Công tác sửa chữa các tổ máy được triển khai theo kế hoạch; công tác quản lý kỹ thuật, an toàn lao động, bảo vệ môi trường và chuẩn bị nguồn lực cho sản xuất điện năm 2027 tiếp tục được chú trọng. Công ty tiếp tục gắn kết chặt chẽ các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với quản trị chi phí, bảo đảm an toàn, độ tin cậy của thiết bị và chăm lo nguồn nhân lực; phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch, bảo đảm các tổ máy sẵn sàng đáp ứng yêu cầu huy động của hệ thống điện quốc gia.